DỊCH VỤ CỦA RAFH
Album ảnh
Hội thảo "Tình dục con người - Bản năng và vấn đề"
Lớp tập huấn ở Ninh Bình
Các hoạt động trong trường THCS
Hoạt động phòng chống bạo hành gia đình
Sinh hoạt cháu Cường
Các hoạt động của xã
Xem tiếp...
Thông tin dự án
Thống kê hệ thống
Hôm nay: 15 lượt
Hôm qua: 210 lượt
Tổng truy cập: 168566 lượt

Báo cáo tình hình nạn nhân chất độc da cam tại hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế


Tổng quan tại Việt Nam
Thực trạng phơi nhiễm
Hậu quả
Các giải pháp
Các chương trình/ dự án đã, đang được triển khai
Nguồn kinh phí

Thực trạng tại 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế
Giới thiệu chung
Mức độ phơi nhiễm
Thực trạng
Các chương trình đã và đang can thiệp
Đề xuất giải pháp

Đã có 4 triệu 800 nghìn người Việt Nam bị phơi nhiễm chất độc da cam/đi-ô-xin, trong đó, 3 triệu người là nạn nhân vẫn đang phải chịu nỗi đau về thể xác và tinh thần do chất độc hóa học gây ra
Trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Mĩ đã phun xuống Việt Nam khoảng 77 triệu lít hóa chất, phần lớn là chất độc da cam [2]. Dioxin là một thành phần hóa học chủ yếu trong chất độc da cam. Chiến dịch phun độc chất này có tên là Operation Ranch Hand (Bàn tay nông dân). Khoảng 1000 lính Mĩ từng luân phiên tham gia vào chiến dịch này.

Sau chuyến thăm VN của Tổng thống G.W. Bush vào năm 2006, Quốc hội Mỹ đã đồng ý thông qua 9 triệu USD để giải quyết hậu quả môi trường do chất độc da cam để lại. Các nhà lãnh đạo Việt Nam cho rằng, Mỹ cần đưa ra những cam kết trợ giúp lớn hơn.
Cho đến nay, Mỹ cung cấp 6 triệu USD để giải quyết hậu quả về môi trường và sức khỏe các nạn nhân là chưa thỏa đáng. Ông Lê Kế Sơn, Phó Tổng cục Trưởng Tổng cục Môi trường cho rằng: “6 triệu USD không là gì nếu so sánh với những hậu quả của chất độc da cam”.
Trong lúc Việt Nam nói rằng có 4 triệu người dân đang bị phơi nhiễm và 3 triệu người đang hứng chịu những căn bệnh nặng nề do chất độc da cam thì Chính phủ Mỹ lại cho rằng, số người bị ảnh hưởng ở mức thấp.
Ben Stocking viết: “Mỹ chỉ chi một lượng nhỏ để hỗ trợ các nạn nhân chất độc tại Việt Nam. Năm ngoái, Mỹ dành hơn 80 triệu USD để phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam, nhưng đối với chất độc da cam con số này chỉ dừng ở mức 3 triệu USD. Liên minh của một nhóm tổ chức phi lợi nhuận do Ford Foundation (Quỹ Ford) đứng đầu, hiện đang chi nhiều hơn số tiền mà chính phủ Mỹ hỗ trợ Việt Nam.
Theo một phép tính, để làm sạch 3 địa điểm từng là kho chứa chất độc da cam: Đà Nẵng, Phù Cát (Bình Định), Biên Hòa số tiền đã lên tới 40 triệu USD. Hơn 2/3 số tiền hỗ trợ của Mỹ được dùng để làm sạch môi trường ở khu vực Đà Nẵng và chỉ có 2 triệu USD để giúp đỡ những nạn nhân gặp vấn đề sức khỏe tại khu vực này”
Ảnh hưởng của dioxin trên con người: Quan điểm của Viện Y khoa Mĩ
18.10.2009 23:49
Qua các chương trước, tôi đã trình bày mối liên hệ giữa dioxin và một số bệnh tật quan trọng. Song, trong thực tế, ngoài các bệnh ung thư, tiểu đường, và dị tật bẩm sinh, dioxin còn có khả năng gây nhiều bệnh khác, nhưng vẫn chưa được nghiên cứu sâu. Trong chương này, tôi sẽ tổng hợp những phát hiện về tác hại của dioxin trên sức khỏe con người qua quan điểm của Viện Y khoa (thuộc Viện Hàn lam Khoa học Quốc gia Mĩ)
Qua các chương trước, tôi đã trình bày mối liên hệ giữa dioxin và một số bệnh tật quan trọng. Song, trong thực tế, ngoài các bệnh ung thư, tiểu đường, và dị tật bẩm sinh, dioxin còn có khả năng gây nhiều bệnh khác, nhưng vẫn chưa được nghiên cứu sâu. Trong chương này, tôi sẽ tổng hợp những phát hiện về tác hại của dioxin trên sức khỏe con người qua quan điểm của Viện Y khoa (thuộc Viện Hàn lam Khoa học Quốc gia Mĩ).
Nhu cầu cho một ủy ban nghiên cứu dioxin
Sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc, hai thành phần được công nhận là chịu ít nhiều ảnh hưởng của dioxin: đồng bào Việt Nam sống trong các vùng bị rải AO, và cựu quân nhân Mĩ, những người trực tiếp rải hóa chất này. Sau năm 1975, một số cựu chiến binh Mĩ và thân nhân của họ bắt đầu phàn nàn tình trạng suy đồi sức khỏe, đặc biệt là ung thư, và tình trạng khuyết tật trong con cái của họ. Những cựu chiến binh này nghi ngờ rằng dioxin (mà họ từng tiếp xúc trong thời chiến) là thủ phạm của những bệnh tật như thế. Họ vận động với chính phủ, và một số thượng nghị sĩ cũng khẳng định rằng AO, hay dioxin, là độc chất gây ra bệnh tật cho giới cựu chiến binh, và kêu gọi chính phủ phải bồi thường cho những thiệt hại này. Tiếp theo đó, Bộ cựu chiến binh (Department of Veterans Affairs) bắt đầu tiến hành thủ thục bồi thường cho những cựu chiến binh mắc bệnh những bệnh mà họ cho là có liên quan đến dioxin [1]. Những bệnh này là:
• Ban clor (Chloracne) và những bệnh như ban clor xảy ra sau khi tiếp xúc với chất màu da cam trong vòng 1 năm;
• Ung thư dạng Hodgkin;
• Ung thư dạng không-Hodgkin;
• Đa u tủy (Multiple myeloma);
• Các bệnh thần kinh cấp tính và hơi cấp (Acute và subacute peripheral neuropathy);
• Bệnh rối loạn chuyển hóa porphyrin (Porphyria cutanea tarda) xảy ra sau khi tiếp xúc với chất màu da cam trong vòng 1 năm;
• Ung thư tuyến tiền liệt (prostate cancer);
• Ung thư hệ thống hô hấp (như ung thư phổi, thanh quản, bướu giáp, khí quản) và phải xảy ra trong vòng 30 năm từ khi tiếp xúc với chất màu da cam;
• Ung thư các mô mềm (soft tissue carcinoma);
• Bệnh tiểu đường loại II.
Ngoài ra, Bộ cựu chiến binh còn chấp nhận bồi thường những cựu chiến binh (hay nói đúng hơn là con em họ) có con bị hai chứng bệnh nứt đốt sống (spina bifida) và các bệnh mang tính dị tật bẩm sinh.
Quyết định bồi thường của Bộ cựu chiến binh không dựa vào bằng chứng khoa học, và cũng không dựa vào những nghiên cứu trên các cựu chiến binh, mà dựa vào cố vấn của Viện hàn lâm khoa học quốc gia Mĩ.
Nhưng ý kiến dioxin là thủ phạm của những vấn đề sức khỏe trong giới cựu chiến binh bị một số nhà nghiên cứu y khoa thách thức. Các nhà nghiên cứu này trình bày dữ kiện cho thấy không có một sự liên đới nào giữa AO hay dioxin và ung thư. Nhận xét này cũng phù hợp với một nghiên cứu ở Úc, mà trong đó các nhà nghiên cứu Úc không tìm thấy mối liên hệ nào giữa dioxin và các vấn đề sức khỏe trong cựu quân nhân Úc từng tham chiến ở Việt Nam.
Vấn đề trở nên phức tạp hơn khi một số nhà nghiên cứu khác trình bày dữ kiện cho thấy dioxin có thể gây ra ung thư, dị thai, và một loạt tác hại khác cho sức khỏe. Một cuộc tranh luận “nóng” giữa các nhà nghiên cứu xảy ra trên các tập san y học. Các nhà nghiên cứu y học thường rất bình tĩnh, lạnh lùng, và ôn hòa trong lời văn chữ viết, nhưng trong cuộc tranh luận này, đã có lúc họ dùng đến những danh từ nặng cảm tính như “huyền thoại” (myth), “sai lầm” (wrong, mistake) …
Để giải quyết tình trạng bất đồng ý kiến này, chính phủ Mĩ đã chi ra một ngân khoảng rất lớn (140 triệu Mĩ kim) để ủy nhiệm một số chuyên viên khoa học và bác sĩ tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của dioxin trong sức khỏe của cựu chiến binh Mĩ. Cuộc nghiên cứu này được lấy tên chiến dịch rải AO, tức là “The Operation Ranch Hand Study” [2]. Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu theo dõi tình trạng sức khoẻ của hai nhóm cựu chiến binh từng tham gia vào chiến dịch này trong thời chiến tranh: nhóm I gồm khoảng 1000 người từng trực tiếp rải AO xuống Việt Nam; và nhóm II có khoảng 1300 người không trực tiếp rải chất AO, nhưng có mặt trong nhà kho, bảo quản chất AO trong thời chiến tranh. Trong thời gian từ 1982, 1985, 1987, 1992, 1997, và 2002, mỗi cựu chiến binh (nếu còn sống) được khám để thu thập số liệu liên quan đến độ tích tụ dioxin, và quá trình phát triển bệnh tật. Một loạt báo cáo khoa học đã được công bố trên các tạp san y khoa danh tiếng, và kết quả có thể được tóm tắt như sau:
(a) Tử vong. Nói chung, không có sự khác biệt đáng kể về tỉ lệ tử vong giữa hai nhóm. Tuy nhiên, nhóm rải AO (nhóm I) có tỉ lệ chết vì bệnh tim mạch cao hơn nhóm II.
(b) Bệnh tiểu đường. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng dioxin có khả năng làm tăng sự nghiêm trọng của bệnh tiểu đường, làm giảm độ insulin và dung nạp glucose (glucose tolerance). Tỉ lệ bị bệnh tiểu đường trong nhóm I cao hơn trong nhóm II khoảng 5%.
(c) Bệnh ung thư. Trong một bài báo đăng trên Tập san American Journal of Epidemiology, các nhà khoa học kết luận rằng không có mối quan hệ nào giữa dioxin và ung thư da, ung thư tiền liệt.
(d) Hệ thống miễn dịch. Kết quả nghiên cứu trong hai nhóm cựu chiến binh cho thấy không có mối liên hệ nào giữa dioxin và các chỉ số sinh hóa như lymphocytes, immunoglobulin, tế bào clonal B, v.v... Ngoài ra, các nhà nghiên cũng cứu không phát hiện ảnh hưởng của dioxin đến hồng huyết cầu hay bạch huyết cầu, hay haematocrit, haemoglobin, hay ESR.
(e) Dùng số liệu từ năm 1982 đến 1997, các nhà nghiên cứu ước lượng rằng tính trung bình, mức độ tồn tại trung bình của dioxin trong cơ thể là khoảng từ 7 đến 8,2 năm.
Nhưng những kết quả nghiên cứu trên đây bị giới cựu chiến binh chất vấn một cách mạnh mẽ. Sau khi điều tra và thậm định lại các phương pháp nghiên cứu và cách thức làm việc của các nhà khoa học dính dáng đến chương trình này, một số cựu chiến binh phát hiện nhiều vấn đề nghiêm trọng. Chẳng hạn như có 2 báo cáo về tình trạng dị thai trong các cựu quân nhân bị nhiễm dioxin ở mức độ cao, nhưng không được công bố. Lại còn có một báo cáo về mối liên hệ giữa dị thai và dioxin bị thay đổi từ ngữ làm cho kết quả kém quan trọng. Phần lớn các nhà khoa học làm việc trong chương trình nghiên cứu này là quân nhân, họ chịu ảnh hưởng từ các cấp chỉ huy cao hơn trong việc phân tích số liệu, và điều này làm cho người ta có lí do để chất vấn tính trung thực của việc làm của họ.
Trong hơn 30 năm qua, ngoài cuộc khảo cứu trong các cựu quân nhân tham gia vào chiến dịch Operation Ranch Hand, còn có một số nghiên cứu khác. Nhưng như đề cập trên, kết quả của các nghiên cứu này thường không nhất quán, và gây ra hoang mang, hiểu lầm trong công chúng. Quốc hội Mĩ đã ủy nhiệm cho Viện Y khoa (Institute of Medicine, trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học) duyệt xét và tóm tắc các kết quả nghiên cứu. Để làm việc này, Viện Y khoa thành lập một ủy ban khoa học (gọi là “Committee to Review the Health Effects in Vietnam Veterans of Exposure to Herbicides) để xem xét, cân nhắc phương pháp và kết quả nghiên cứu và từ đó tổng kết thành một báo cáo cho chính phủ.
Ủy ban này gồm có 11 nhà khoa học từ các trường đại học và viện nghiên cứu trên toàn nước Mĩ, do Giáo sư Irva Hertz-Picciotto (thuộc Trường đại học North Carolina), một chuyên viên về dịch tễ học, chủ trì. Ủy ban làm việc dựa trên nhiều nguồn thông tin. Thứ nhất, họ duyệt qua và cân nhắc tất cả các nghiên cứu liên quan đến hóa chất dioxin và sức khỏe của con người (kể cả các nghiên cứu trên cựu chiến binh) được tiến hành trong thời gian hơn 30 năm qua trên khắp thế giới. Thứ hai, ủy ban tổ chức các cuộc hội thảo khoa học để đánh giá các nghiên cứu đã công bố và đang còn tiến hành. Thứ ba, ủy ban còn tổ chức các buổi mít-tinh với những cá nhân quan tâm để lắng nghe, ghi chép và thảo luận ý kiến của người tham gia.
Ủy ban xét đến ba khía cạnh khoa học sau đây để đi đến kết luận:
(a) Mối liên hệ thống kê giữa các hóa chất và bệnh tật. Ủy ban cũng xem xét đến các vấn đề liên quan đến phương pháp nghiên cứu (như thiết kế nghiên cứu, phương pháp phân tích thống kê, và cách diễn dịch dữ kiện) xem có thích hợp và đạt chuẩn khoa học hay không.
(b) Ủy ban thẩm định bằng chứng xem những người từng bị nhiễm hay tiếp xúc với độc chất (kể cả các cựu chiến binh) có nguy cơ bị bệnh cao hơn trung bình hay không.
(c) Nếu có một mối liên hệ có ý nghĩa thống kê, ủy ban còn xem xét mối liên hệ đó có cơ sở sinh học hay không.
Phân loại tác hại dioxin
Kết quả làm việc của ủy ban được tóm lược trong một báo cáo đệ trình lên Viện hàn lâm khoa học Mĩ và chính phủ Mĩ. Bản báo cáo thứ nhất có tên là “Veterans and Agent Orange: Update 1996” (Cựu chiến binh và chất màu da cam: cập nhật thông tin 1996) được công bố vào Tháng Ba năm 1996. Nhưng mỗi năm có nhiều nghiên cứu liên quan đến đề tài này, nên Ủy ban phải liên tục cập nhật hóa và đánh giá lại bằng chứng. Do đó, cứ mỗi hai năm, họ lại cho xuất bản một bản báo cáo mới. Tiếp theo bản báo cáo năm 1996 là bản báo cáo “Agent Orange: Update 1998”, “Agent Orange: Update 2000”, và mới nhất là “Agent Orange: Update 2002” [3]. Trong mỗi báo cáo họ chia mối liên hệ giữa ảnh hưởng của dioxin và sức khỏe thành bốn nhóm:
Nhóm 1 là những bệnh mà bằng chứng nghiên cứu khoa học đã rõ ràng trong các nghiên cứu và loại trừ khả năng ảnh hưởng của các yếu tố phụ và yếu tố ngẫu nhiên. Chẳng hạn như nếu có nhiều nghiên cứu nhỏ nhưng tất cả cùng phát hiện một mối liên hệ giữa dioxin và bệnh, thì các kết quả nghiên cứu này được xếp vào nhóm 1. Cho đến nay, Ủy ban nhận định rằng đã có đầy đủ bằng chứng khoa học để kết luận về mối liên hệ giữa dioxin và các bệnh sau đây:
• Ung thư bạch cầu dòng lympho dạng mãn tính (Chronic lymphocytic leukemia, CLL)
• Ung thư mô mềm (Soft-tissue sarcoma)
• Ung thư dạng không-Hodgkin (Non-Hodgkin's lymphoma)
• Ung thư dạng Hodgkin (Hodgkin's disease)
• Ban clor (Chloracne)
Nhóm 2 là những bệnh mà bằng chứng chưa mấy rõ ràng. “Chưa rõ ràng” có nghĩa là có bằng chứng về mối liên hệ, nhưng khả năng ảnh hưởng của các yếu tố phụ và yếu tố ngẫu nhiên không thể loại bỏ. Chẳng hạn như trong số 5 nghiên cứu, có một nghiên cứu cho thấy một mối liên hệ, còn 4 nghiên cứu khác không phát hiện mối liên hệ nào, thì mối liên hệ này được xếp vào nhóm 2. Những bệnh nằm trong nhóm 2 là:
• Ung thư hệ thống hô hấp (ung thư bronchus, larynx, and trachea)
• Ung thư tuyến tiền liệt (Prostate cancer)
• Bệnh đa u tủy (Multiple myeloma)
• Một số bệnh thần kinh cấp tính (Acute and subacute transient peripheral neuropathy)
• Rối loạn chuyển hóa porphyrin trong da (Porphyria cutanea tarda)
• Bệnh tiểu đường dạng II (Type 2 diabetes)
• Chứng nứt đốt sống (Spina bifida) trong các con em của cựu chiến bình.
Nhóm 3 là những bệnh mà nghiên cứu khoa học chưa đưa ra đầy đủ bằng chứng để kết luận. Ở đây, kết quả các nghiên cứu chưa nhất quán, hay công trình nghiên cứu có vấn đề về phương pháp, kém chất lượng, chưa đạt các tiêu chuẩn khoa học. Ví dụ như những nghiên cứu không phân tích các yếu tố phụ, không xem xét đến các yếu tố ngẫu nhiên, hay phân tích dữ kiện không đúng phương pháp, hay số lượng đối tượng nghiên cứu quá ít để kết luận. Kết quả trong những nghiên cứu như thế được xếp vào nhóm 3.
• Hepatobiliary cancer
• Ung thư mũi (Nasal or nasopharyngeal cancer)
• Ung thư xương (Bone cancer)
• Ung thư da (Skin cancers, melanoma, basal, and squamous cell)
• Ung thư vú (Breast cancer)
• Ung thư tử cung, buồng trứng (cervical, uterine, and ovarian)
• Ung thư hòn dái (Testicular cancer)
• Ung thư bọng đái (Urinary bladder cancer)
• Ung thư thận (Renal cancer)
• Ung thư máu (Leukemia), ngoại trừ CLL
• Sẩy thai (Spontaneous abortion)
• Dị tật bẩm sinh (Birth defects), ngoại trừ chứng nứt đốt sống
• Thai nhi chết trong bụng mẹ (stillbirth)
• Thai nhi thiếu cân (Low birthweight)
• Ung thư trong trẻ em, kể cả acute myelogenous leukemia
• Bất bình thường về lượng tinh trùng và hiếm muộn
• Các chứng bệnh liên quan đến tâm thần
• Rối loạn thần kinh
• Rối loạn đường tiêu hóa và nội tiết
• Các chứng bệnh về miễn dịch
• Các chứng bệnh liên quan đến máu
• Các chứng bệnh liên quan đến hệ thống hô hấp
• AL-type primary amyloidosis
• Bệnh lạc nội mạc tử cung (Endometriosis)
• Ảnh hưởng đến hệ thống điều hòa tuyến giáp (thyroid homeostasis)
Nhóm 4 là những bệnh mà bằng chứng tuy còn hạn chế những có thể kết luận rằng không có liên hệ với dioxin. Trong nhóm này, các nghiên cứu có chất lượng cao đều cho ra một kết quả nhất quán rằng không có một mối liên hệ nào giữa dioxin và bệnh. Tuy nhiên, dù nghiên cứu có phát hiện dioxin tăng nguy cơ bị bệnh và nguy cơ này rất nhỏ (chẳng hạn như 5%) thì bằng chứng cũng được xếp vào nhóm 4.
• Ung thư dạ dày, ruột, tuyến tụy, trực tràng
• Ung thư não
Vài nhận xét
Ngày nay, mỗi khi người Việt Nam nói đến tác hại của dioxin và chấu màu da cam, người Mĩ liền nói đến vấn đề “bằng chứng”. Họ hàm ý cho rằng chưa có đủ bằng chứng về tác hại của dioxin trong người Việt Nam. Nhưng trong thực tế dioxin đã được người Mĩ thừa nhận là có tác hại đến sức khỏe con người, thì hà cớ gì người Mĩ lại đòi bằng chứng từ phía Việt Nam? Như tôi đã trình bày trong Chương I, có bằng chứng cho thấy trước khi rải chất màu da cam xuống Việt Nam, giới quân sự Mĩ đã biết được chất này là độc hại, nhưng vì lúc đó họ coi người Việt là kẻ thù nên họ không quan tâm gì cả. Người Mĩ không có lí do tốt để nói đến “bằng chứng”.
Qua nhận định của Viện Y khoa, không ai còn nghi ngờ sự độc hại của dioxin trong con người. Nhưng chứng minh sự ảnh hưởng của dioxin trong sức khỏe con người vẫn còn là một thách thức lớn của khoa học. Ngoài một số bệnh ung thư mà giới khoa học đã có đầy đủ bằng chứng để cho rằng dioxin là một nguyên nhân chính, một số bệnh khác vẫn còn trong vòng nghi vấn hay cần thêm bằng chứng.
Ở Việt Nam, sự hiện diện của dioxin trong môi trường ở một số vùng và ở một mức độ có hại cho sức khoẻ là một thực tế không ai có thể chối cãi. Nhưng nếu kết quả của các nghiên cứu ở Mĩ và Ý đem vào áp dụng cho tình hình Việt Nam, người ta có thể nói rằng đã có nhiều nạn nhân dioxin đã bỏ mạng, và nhiều người vẫn còn đang sống với ảnh hưởng của độc chất này.

Chất độc da cam
06.01.2010 19:46


2,3,7,8-TCDD, một loại dioxin gây ô nhiễm
Chất độc da cam (CĐDC), (tiếng Anh: Agent Orange - Tác nhân da cam), là tên gọi của một loại chất thuốc diệt cỏ và làm rụng lá cây được quân đội Hoa Kỳ sử dụng tại Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Chất này đã được dùng trong những năm từ 1961 đến 1971 và nhiều người cho rằng đã làm tổn thương sức khỏe của những người dân thường cũng như binh lính Việt Nam, lính Mỹ cũng như lính Úc, Hàn Quốc, Canada, New Zealand có mặt như quân đồng minh của Mỹ mà có tiếp xúc với chất này, cũng như con cháu họ.
rong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, mục đích quân sự chính thức của CĐDC là làm rụng lá cây rừng để quân đội du kích Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam không còn nơi trốn tránh. CĐDC là một chất lỏng trong; tên của nó được lấy từ màu của những sọc được vẽ trên các thùng phuy dùng để vận chuyển nó. Quân đội Hoa Kỳ còn có một số mã danh khác để chỉ đến các chất được dùng trong thời kỳ này: "chất xanh" (Agent Blue, cacodylic acid), "chất trắng" (Agent White, hỗn hợp 4:1 của 2,4-D và picloram), "chất tím" (Agent Purple) và "chất hồng" (Agent Pink).
Đến năm 1971, CĐDC không còn được dùng để làm rụng lá nữa; 2,4-D vẫn còn được sử dụng để làm diệt cỏ. 2,4,5-T đã bị cấm dùng tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác.
Ảnh hưởng đến con người
Người ta đã tìm thấy CĐDC có chứa chất độc dioxin, nguyên nhân của nhiều bệnh như ung thư, dị dạng và nhiều rối loạn chức năng ở cả người Việt lẫn các cựu quân nhân Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, Giáo sư Alvin L. Young - chuyên gia dioxin nói rằng "Không có tác hại sinh thái nào được ghi nhận ở động thực vật mặc dù một lượng lớn chất diệt cỏ và dioxin đã được sử dụng", và rằng "thông tin này chưa được xem xét trong các lần đánh giá trước của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ và Viện Y học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ". Tuy nhiên, giáo sư lưu ý rằng "các chất diệt cỏ đổ thẳng xuống đất và ngấm sâu trước khi thoái biến thì sẽ có tồn dư và vì vậy là một mối lo ngại.". Còn theo Cựu Đại sứ Mỹ tại VN ông Michael Marine vẫn cho rằng mối liên hệ giữa sự phơi nhiễm dioxin và sức khoẻ con người vẫn chưa được chứng minh. Tuy nhiên ông đã công bố khoản tài trợ trị giá 400 nghìn USD để nghiên cứu ô nhiễm dioxin và tẩy độc tại sân bay Đà Nẵng[.

Vấn đề chất độc da cam/đi-ô-xin trong chiến tranh Việt Nam
11.03.2010 10:28



Chiến dịch sử dụng chất độc màu da cam tại chiến trường Việt Nam đã được quân đội Mỹ chính thức phát động ngày 30/11/1961 với mật danh: “Chiến dịch bàn tay dài” (Operation Ranch Hand). Chiến dịch này được Mỹ công bố chính thức kết thúc vào năm 1971 nhưng thực tế vẫn được nguỵ quyền Sài Gòn sử dụng tới tháng 4/1975.
Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, quân Mỹ và đồng minh đã sử dụng 16 loại chất diệt cây các loại với 100.000 tấn chất độc hoá học, trong đó có 57.000 tấn chất độc da cam trên diện tích khoảng 3 triệu ha ở Việt Nam.
Đi-ô-xin là loại hoá chất độc hại nhất mà loài người đã tổng hợp được năm 1957, gây nên hậu quả nặng nề lên người như ung thư, dị dạng, tâm thần và mức độ di truyền qua nhiều thế hệ dù với liều nhiểm độc rất thấp. Tình đến nay, chất độc da cam/đi-ô-xin đã ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống trên 4 triệu người Việt Nam, trong đó số người mắc bệnh được xác định là 447.845 người, chiếm 0,58% dân số cả nước với cả 3 thế hệ (nhiễm trực tiếp, con đẻ, cháu); các loại bệnh phổ biến là bại liệt, ung thư, tâm thần, bệnh ngoài da, suy giảm miễn dịch… Các vùng đất bị nhiễm chất độc nặng nhất thuộc các tỉnh: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai…
Chia sẻ với nỗi đau và mất mát mà những nạn nhân chất độc da cam/ đi-ô-xin phải chịu đựng, Đảng và nhà nước ta đã ban hành các chế độ, chính sách xã hội đối với những người tham gia kháng chiến và con, cháu họ bị nhiễm chất độc hóa học Mỹ. Ngày 8/4/1981, Bộ thương binh và Xã hội đã có hướng dẫn các Sở Thương binh và xã hội các tỉnh, thành phố hỗ trợ các nạn nhân bị nhiễm độc. Ngày 23/2/2000, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 26/2000/QĐ-TTg về một số chế độ trợ cấp cho các nạn nhân bị nhiễm độc. Ngày 5/7/2004, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 120/2004 QĐ-TTg về một số chế độ đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị hậu quả do nhiễm chất độc hoá học Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Viêt Nam (Quyết định này thay thế Quyết định số 26/2000/QĐ- TTh ngày 23/2/2000). Các địa phương đặc biệt quan tâm tới việc trợ giúp các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin là Tp.HCM, Khánh Hòa, Thái Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Nam Định, Hà Nội, Bắc Giang, Tuyên Quang, Hải Dương, Hải Phòng, Đồng Nai.
Cuộc đấu tranh đòi công lý cho các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin của Việt Nam đã được Giáo sư Tôn Thất Tùng đưa ra diễn đàn quốc tế từ năm 1970. Từ năm 1980 đến nay, Việt Nam đã tổ chức nhiều hoạt động nghiên cứu về hậu quả chất độc này và yêu cầu phía Mỹ phải chịu trách nhiệm.
Ngày 30/1/2004, các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin của Việt Nam đã khởi kiện 37 công ty Mỹ cung cấp hóa chất độc cho quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam lên Tòa án Liên bang Mỹ tại Bruclin (Niu Oóc- Mỹ). Phiên tranh tụng đầu tiên đã thu hút sự quan tâm của dư luận trong nước và quốc tế, kể cả dư luận nhân dân và các chính khách Mỹ. Trong những ngày qua, nhiều nước và vùng lãnh thỗ, nhiều tổ chức quốc tế, các cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan ngôn luận và thông tấn báo chí trên thế giới đã thông tin bình luận ủng hộ vụ kiện của các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin của Việt Nam, góp phần làm dư luận Mỹ và quốc tế hiểu rõ hơn về lập trường của phía Việt Nam và trách nhiệm của phía Mỹ đối với hậu quả chiến tranh tại Việt Nam, đòi các công ty Mỹ phải thực hiện nghĩa vụ và đạo lý, lương tâm, đền bù vật chất cho các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin. Ngày 10/3/2004, sau 10 ngày kể từ phiên tranh tụng của vụ kiện, Chánh tòa án liên bang Mỹ Jack B.Weistein đã ra phán quyết: bác đơn kiện của các nạn nhân Việt Nam. Đây là một quyết định vội vã, vô trách nhiệm và sai lầm của phiên toà này, giúp 37 công ty Hoá chất Mỹ trốn trách nhiệm đối với hậu quả nghiêm trọng mà họ đã gây ra.
Thế nhưng, được sự ủng hộ, cổ vũ của toàn thể nhân dân Việt Nam và nhân dân tiến bộ trên thế giới, các nạn nhân chất độc da cam/Đi-ô-xin của Việt nam quyết đeo đuổi cuộc đấu tranh đến cùng-vì công lý, vì đạo lý, vì quyền sống và mưu cầu hạnh phúc của con người.


Chất độc da cam
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


Chiếc máy bay số hiệu UH-1D từ Đại đội không quân 336 đang rải chất diệt cỏ trong vùng rừng của châu thổ sông Mê Kông, 26/07/1969


Hormone thực vật, một phần của Chất độc da cam
Chất độc da cam (viết tắt: CĐDC, tiếng Anh: Agent Orange - Tác nhân da cam) là tên gọi của một loại chất thuốc diệt cỏ và làm rụng lá cây được quân đội Hoa Kỳ sử dụng tại Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Chất này đã được dùng trong những năm từ 1961 đến 1971 và nhiều người cho rằng đã làm tổn thương sức khỏe của những người dân thường cũng như binh lính Việt Nam, lính Mỹ cũng như lính Úc, Hàn Quốc, Canada, New Zealand có mặt như quân đồng minh của Mỹ mà có tiếp xúc với chất này, cũng như con cháu họ.
Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, mục đích quân sự chính thức của CĐDC là làm rụng lá cây rừng để quân đội du kích Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam không còn nơi trốn tránh. CĐDC là một chất lỏng trong; tên của nó được lấy từ màu của những sọc được vẽ trên các thùng phuy dùng để vận chuyển nó. Quân đội Hoa Kỳ còn có một số mã danh khác để chỉ đến các chất được dùng trong thời kỳ này: "chất xanh" (Agent Blue, cacodylic acid), "chất trắng" (Agent White, hỗn hợp 4:1 của 2,4-D và picloram), "chất tím" (Agent Purple) và "chất hồng" (Agent Pink).
Đến năm 1971, CĐDC không còn được dùng để làm rụng lá nữa; 2,4-D vẫn còn được sử dụng để làm diệt cỏ. 2,4,5-T đã bị cấm dùng tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác.
Mục lục
[ẩn]
• 1 Ảnh hưởng đến con người
• 2 Các vụ kiện của nạn nhân chất độc da cam
o 2.1 Vụ kiện của cựu binh Mỹ tham gia Chiến tranh Việt Nam
o 2.2 Vụ kiện cựu binh Úc
o 2.3 Vụ kiện cựu binh Canada
o 2.4 Vụ kiện cựu binh Hàn Quốc
o 2.5 Vụ kiện của các nạn nhân Việt Nam
• 3 Chú thích
• 4 Xem thêm
• 5 Liên kết ngoài

[sửa] Ảnh hưởng đến con người
Xem thêm: Dioxin
Người ta đã tìm thấy CĐDC có chứa chất độc dioxin, nguyên nhân của nhiều bệnh như ung thư, dị dạng và nhiều rối loạn chức năng ở cả người Việt lẫn các cựu quân nhân Hoa Kỳ.


2,3,7,8-TCDD, một loại dioxin gây ô nhiễm
Tuy nhiên, Giáo sư Alvin L. Young - chuyên gia dioxin nói rằng "Không có tác hại sinh thái nào được ghi nhận ở động thực vật mặc dù một lượng lớn chất diệt cỏ và dioxin đã được sử dụng", và rằng "thông tin này chưa được xem xét trong các lần đánh giá trước của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ và Viện Y học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ". Tuy nhiên, giáo sư lưu ý rằng "các chất diệt cỏ đổ thẳng xuống đất và ngấm sâu trước khi thoái biến thì sẽ có tồn dư và vì vậy là một mối lo ngại."[1]. Còn theo Cựu Đại sứ Mỹ tại VN ông Michael Marine vẫn cho rằng mối liên hệ giữa sự phơi nhiễm dioxin và sức khoẻ con người vẫn chưa được chứng minh. Tuy nhiên ông đã công bố khoản tài trợ trị giá 400 nghìn USD để nghiên cứu ô nhiễm dioxin và tẩy độc tại sân bay Đà Nẵng[2].
[sửa] Các vụ kiện của nạn nhân chất độc da cam
[sửa] Vụ kiện của cựu binh Mỹ tham gia Chiến tranh Việt Nam
Năm 1984, từ phiên tòa của quan tòa Jack Weinstein, 7 công ty hóa chất Mỹ đã bồi thường 180 triệu đô la cho các cựu chiến binh Mỹ nhưng bác bỏ trách nhiệm về tác hại của chất diệt cỏ mà họ đã cung cấp cho quân đội[3].
[sửa] Vụ kiện cựu binh Úc
[sửa] Vụ kiện cựu binh Canada
[sửa] Vụ kiện cựu binh Hàn Quốc
Ngày 25 tháng 1 năm 2006, Toà án dân sự cấp cao Seoul đã ra phán quyết buộc hai công ty hoá chất Dow Chemical tại Midland, Michigan và Monsanto tại St. Louis, Missouri phải bồi thường 62 triệu USD phí chăm sóc sức khoẻ cho 6.800 người gồm các cựu binh Hàn Quốc từng tham chiến tại Việt Nam và gia đình của họ. Đây là lần đầu tiên một toà án ở Hàn Quốc ra phán quyết có lợi cho nạn nhân chất độc hoá học da cam[4][5].
[sửa] Vụ kiện của các nạn nhân Việt Nam
Bài chi tiết: Vụ kiện hậu quả chất độc màu da cam trong Chiến tranh Việt Nam


Hình ảnh một số trẻ em VN bị hậu quả chất độc màu da cam
Ngày 31 tháng 1 năm 2004, nhóm bảo vệ quyền lợi nạn nhân CĐDC, Hội Nạn nhân Chất độc da cam/dioxin Việt Nam (The Vietnam Association of Victims of Agent Orange/Dioxin - VAVA) đã kiện hơn 30 công ty Mỹ phải bồi thường do trách nhiệm gây ra thương tích vì đã sản xuất chất hóa học này. Dow Chemical và Monsanto là hai công ty sản xuất CĐDC lớn nhất cho quân đội Hoa Kỳ đã bị nêu tên trong vụ kiện cùng các công ty khác. Trước đây nhiều cựu quân nhân Hoa Kỳ đã thắng một vụ kiện tương tự.
Các nạn nhân tham gia kiện gồm có:
1. Phan Thị Phi Phi
2. Nguyễn Văn Quý
3. Dương Quỳnh Hoa (đã mất tháng 2 năm 2006)
Vào ngày 10 tháng 3 năm 2005, quan tòa Jack Weinstein (thuộc Tòa án liên bang tại quận Brooklyn) đã bác đơn kiện, quyết định rằng những đòi hỏi của đơn kiện không có cơ sở pháp luật. Quan tòa kết luận rằng CĐDC đã không được xem là một chất độc dưới luật quốc tế vào lúc Hoa Kỳ dùng nó; rằng Hoa Kỳ không bị cấm dùng nó để diệt cỏ; và những công ty sản xuất chất này không có trách nhiệm về cách sử dụng của chính quyền.
Chính phủ Hoa Kỳ, vốn có quyền miễn tố (sovereign immunity), không phải là một bị cáo trong đơn kiện. Tuy nhiên, vào năm 1984 cũng từ phiên tòa của vị quan tòa này, chính các công ty trên đã chi khoảng 180 triệu USD cho các gia đình người Mỹ là cựu chiến binh Việt Nam mặc dù không thừa nhận có hành động sai trái.
Hai mươi mục trong phán quyết của thẩm phán Jack Weinstein ngày 10 tháng 3 về vụ kiện của các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam đối với các công ty hoá chất đã được phân tích của Mandrew Wells-Dang, đại diện Quỹ Hoà giải và Phát triển tiếng Anh (tiếng Việt phần 1, và tập 2).
Ngày 7 tháng 4 năm 2005 các nguyên đơn Việt Nam đã tiếp tục gửi đơn kháng cáo lên Tòa Phúc thẩm của Mỹ đòi lật lại quyết định của tòa sơ thẩm.
Tòa Phúc thẩm Khu vực 2 tại Manhattan bắt đầu xem xét lại vụ kiện vào tháng 6 năm 2006, ra phán quyết vào tháng 2 năm 2007 đồng ý với phán quyết của Tòa sơ thẩm.


Hậu quả chất độc da cam tại Việt Nam
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trong 10 năm, từ 1961 đến 1971, của Chiến tranh Việt Nam, quân đội Mỹ đã rải hơn 18 triệu gallon chất độc da cam với thành phần chứa dioxin xuống hơn 10% diện tích đất ở miền Nam Việt Nam, làm nhiễm độc và tàn phá hàng triệu hécta rừng và đất nông nghiệp. Nhiều người cho rằng ngoài tác hại cho môi trường, hóa chất này còn gây hậu quả trầm trọng cho tính mạng, sức khỏe của nhiều người Việt, thậm chí tới các thế hệ sinh ra sau chiến tranh.
Hiện nay, ước tính có khoảng 4,8 triệu người Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam/dioxin, sống tập trung tại các tỉnh dọc đường Trường Sơn và biên giới với Campuchia. Hàng trăm nghìn người trong số đó đã qua đời. Hàng triệu người và cả con cháu của họ đang phải sống trong bệnh tật, nghèo khó do di chứng của chất độc da cam[1].
Viện sĩ Viện Hàn lâm Y học Nga Xofronov Ghenrik Alexandrovich và Giáo sư Rumax Vladimia Xtepanovich, đồng Tổng Giám đốc Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga đã khẳng định rằng hậu quả về mặt y sinh học của chất độc da cam đối với con người và môi trường sinh thái là rất nghiêm trọng, vì điôxin là chất độc nhất mà loài người đã tổng hợp được. Qua kết quả nghiên cứu trong 18 năm của Trung tâm nhiệt đới Việt-Nga, các nhà khoa học kết luận rằng chất độc da cam đã gây ra hậu quả y học và sinh học lâu dài đối với sức khoẻ con người, không những đối với các cựu chiến binh Việt Nam đã từng tham gia chiến tranh, mà còn cả thế hệ thứ 2, thứ 3 là con em của những người đã bị phơi nhiễm. Thậm chí, cả những trẻ em sống trong vùng bị nhiễm chất độc hoá học cũng có biểu hiện bệnh lý. Chất da cam/điôxin đã có ảnh hưởng về di truyền sinh thái, đặc biệt gây ra tình trạng sảy thai, lưu thai hoặc có con bị dị tật bẩm sinh ở phụ nữ bị nhiễm đioxin. Cũng theo hai nhà khoa học Nga này, tác động lâu dài của chất độc da cam/điôxin không chỉ có 20 năm, mà có thể lên tới trên 100 năm. Số người bị ảnh hưởng của chất độc này cũng không chỉ dừng ở 4,8 triệu người mà có thể là hàng chục triệu người[2].
Theo Beatrice Eisman và Vivian Raineri[3], trong thập niên 1980, chỉ riêng tại bệnh viện Từ Dũ ở Thành phố Hồ Chí Minh trung bình mỗi ngày có một trẻ sơ sinh ra đời với dị tật bẩm sinh. Trong thập niên 1990, tỷ lệ này giảm xuống còn một ngày rưỡi có một trẻ. Cũng theo nguồn trên, một báo cáo của tạp chí American Journal of Public Health nói rằng mức độ đioxin trong sữa mẹ tại miền Nam Việt Nam cao gấp 50 lần ở miền Bắc, nơi không bị rải chất độc trong chiến tranh.
Vụ kiện hậu quả chất độc màu da cam trong Chiến tranh Việt Nam
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bài viết này liên quan đến một sự kiện đang diễn ra.
Thông tin ở đây có thể thay đổi nhanh chóng. Làm sạch bộ nhớ để xem những thay đổi gần đây.
Vụ kiện hậu quả chất độc màu da cam trong Chiến tranh Việt Nam là một vụ của Nhóm bảo vệ quyền lợi của nạn nhân Chất độc da cam/Dioxin đối với 37 công ty sản xuất hóa chất của Hoa Kỳ, những đơn vị đã sản xuất các chất hóa học phát quang cây cối có chứa chất độc da cam được quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, trong đó nổi bật là các công ty: Dow Chemical, Montaso Ltd, Phamacia Corporation, and Hercules Incorporated. [1] Cho đến nay, vụ kiện đã qua hai phiên tòa sơ thẩm Tòa án liên bang tại quận Brooklyn và tòa phúc thẩm ở Tòa kháng án liên bang khu vực 2 ở New York bác đơn kiện của nguyên đơn với lý do chính: bên nguyên chưa có bằng chứng khoa học chứng minh mối quan hệ giữa bệnh tật của họ với chất dioxin, không có căn cứ pháp luật quốc tế, các công ty hóa chất chỉ sản xuất theo đơn đặt hàng của chính phủ Mỹ nhưng chính phủ Mỹ lại có quyền miễn tố. Do đó ngày 2 tháng 3 năm 2009 tòa án Tối cao Mỹ bác đơn thỉnh cầu của nguyên đơn Việt Nam.
Vụ kiện đã thu hút sự chú ý của dư luận Việt Nam và quốc tế. Vài tổ chức xã hội đã kêu gọi ủng hộ nạn nhân chất độc dioxin, ủng hộ bên nguyên. Như ông Len Aldis đã lập một trang web kêu gọi ký tên vì công lý. [2][3]



Các bài viết khác:
Nghiên cứu bạo lực gia đình chống lại phụ nữ - Thái độ và thực hành của nhân viên y tế đối với nạn nhân của nạn bạo lực gia đình chống lại phụ nữ
Nghiên cứu, khảo sát của RaFH là nghiên cứu để hành động
Đề cương thử nghiệm lâm sàn - áp dụng liệu pháp quang động học - PDT trong điều trị ung thư tại Việt Nam
Hóa Chất Trị liệu
Bản dự thảo điều trị ung thư tại Việt Nam
Bạo lực gia đình và những tác động nặng nề đối với trẻ em
Thay đổi hành vi của nam giới về bạo lực gia đình – sự chia sẻ kinh nghiệm từ dự án phòng chống bạo lực gia đình tại Ninh Bình
Thử nghiệm lâm sàng liệu pháp quang họ thế hệ mới NG-PDT ( next generation phototherapy ) trong điều trị ung thư cổ tử cung, ung thư âm hộ và ung thư vú ở phụ nữ Việt Nam
Thực trạng Ung thư hiện nay Ung thư nói chung: thế giới, Việt Nam Về ung thư CTC, Vú, Âm hộ
Bản dự thảo điều trị ung thư tại Việt Nam Ung thư Âm hộ